{getContent} $results={6} $label={Truyện Sưu Tầm} $type={grid}
{getContent} $results={3} $label={Công Nghệ} $type={list}
{getContent} $results={6} $label={Sức Khoẻ} $type={block}
{getContent} $results={3} $label={Tản Mạn} $type={grid}
{getContent} $results={3} $label={Download} $type={block}

QUÊ TÔI - P3

Tối hôm đó, sau bữa cơm, khi tôi đang khoan thai ngậm tăm nhâm nhi trà đá vỉa hè thì thằng Đức hí hửng đến rủ đi "ăn hàng". Ban đầu tôi cũng định từ chối, nhưng thấy nó nhiệt tình quá, với lại cũng tò mò cái "món hàng" này nó "ngon" đến đâu, nên đành gật đầu đại. "Thôi thì đi làm tí 'nồng nặc cá tươi' vậy, biết đâu lại có trải nghiệm mới lạ!" – tôi nghĩ bụng. Cứ tưởng chỉ có hai đứa, ai ngờ ra đến đầu đường đã thấy một tốp 6-7 chú nữa đứng lố nhố. Trời ơi, đi "tán gái" mà cứ như đi biểu tình đấu tố địa chủ mùa cải cách ruộng đất, nhìn mà phát khiếp!



Đức chở tôi trên con "Uây Tàu thần thánh" của hắn xuống tận huyện, quãng chừng 3 cây số. Chúng tôi rẽ vào một con đường nhỏ xuyên qua cả nghĩa trang. Trời tối mịt, thỉnh thoảng mới thấy vài ánh đèn le lói xa xa. Đi thêm hơn cây nữa thì hắn quặt vào một con ngõ nhỏ, dẫn đến một căn nhà xây bằng gạch ba-banh cũ kỹ. Cả bọn xuống xe, bước vào.

Vừa đặt chân qua ngưỡng cửa, một mùi hương "đặc trưng" xộc thẳng vào mũi, khiến tôi suýt chút nữa thì nôn ọe. Đó là sự pha trộn kỳ lạ giữa mùi ẩm mốc của chăn chiếu lâu ngày không giặt, mùi mồ hôi người, và đặc biệt là mùi son phấn rẻ tiền nồng nặc đến khó tả. Tôi vội vàng quay ra cửa, châm điếu thuốc để trấn tĩnh lại tinh thần.

Quay vào, tôi thấy một "má mì" trạc 50-60 tuổi, mặt trát phấn dày cộp, hồ hởi chạy ra mời cả bọn. Bà ta kéo ghế, rót trà vào mấy cái chén cáu bẩn rồi đon đả: "Gớm, mấy chú mấy ngày không đến là các em nó cứ nhắc đấy!" À, ra là "khách quen" của quán!

Tôi cầm chén nước cho phải phép nhưng chẳng dám uống. Ngó nghiêng xung quanh, tôi thấy quán này cũng chẳng khác mấy ổ "quán cỏ" ở Hà Nội là mấy: cũng ngăn thành nhiều phòng bằng ván ép ọp ẹp, cũng đèn quả nhót mờ mờ xanh xanh đỏ đỏ. Thỉnh thoảng, một cánh cửa lại bật mở, một "con đực" lén lút chui ra rồi biến mất tăm theo lối cửa sau. Sau đó là tiếng nước chảy sè sè trong khu vệ sinh quây bằng cót ép sau nhà, báo hiệu một "công đoạn" mà ai cũng biết là gì.

Thú thật, tôi hơi thất vọng toàn tập khi nhìn thấy mặt mũi mấy em "thôn nữ" ở đây. Chẳng ra thôn nữ mà cũng chẳng ra thành thị, cứ nửa nạc nửa mỡ kiểu "gái đú". Phấn son thì trát nhoe nhoét, trông cứ như bị đánh bả. Thậm chí có cô còn thoang thoảng mùi mồ hôi dầu hoặc mùi... nách. Ôi thôi rồi, đúng là "khác xa một trời một vực" so với những gì tôi tưởng tượng!

Giá dịch vụ là 300 ngàn cho 30 phút "tàu nhanh". Quá giờ thì trả thêm tiền. Thằng Đức lịch sự bảo: "Ông vào trước đi." Tôi xua tay: "Thôi chúng mày cứ "xơi" đi, tao xin kiếu. Tao đi cho vui, cho biết thôi." Nó trợn mắt: "Đâu lại thế được! Mang tiếng đưa ông đi chơi mà lại chẳng "sơ múi" gì à?" Chiều lòng nó, tôi đành gật gù: "Ừ thì vào..."

Tôi theo một cô gái vào căn buồng bé tí tẹo, chừng 6-7 mét vuông, chỉ có mỗi cái phản được kê bằng gạch xây hai đầu. Ngán ngẩm, tôi ngồi bệt xuống cạnh giường, rút điếu thuốc ra hút. Cửa vừa đóng, chưa kịp nói gì thì cô gái đã không còn một mảnh vải trên người, nằm ệp xuống đống chăn đệm bốc mùi chua lòm. Ôi trời ơi, thịt đâu mà lắm thế, cứ ngồn ngộn và "thỗn thện" làm sao!

Tôi nhăn mặt quay đi, hắng giọng: "Anh ngồi chơi thôi, hết giờ thì anh ra." Cô gái ngạc nhiên: "Ơ sao vậy anh? Anh không "làm" thì ra cho em tiếp người khác." Đoạn cô ấy nói thêm: "À, cho em 10 ngàn nhé, mắc công em cởi quần áo với lại anh cũng nhìn rồi mà." Tôi cười: "Anh sẽ thanh toán đủ. Em cứ yên tâm, miễn sao lát nữa mấy anh kia hỏi thì đừng bảo anh không làm gì là được." Cô gái bật dậy, khúc khích cười: "Anh lạ nhỉ! Mà hình như anh không phải người ở đây, nghe giọng khác lắm." Tôi ậm ừ, cố ngồi thêm chừng 20 phút rồi chuồn ra ngoài.

Tôi ra đầu hè ngồi bệt xuống hút thuốc, chờ đợi các "con giời" khác. Trời ơi, có mỗi ba cô gái mà cứ xoay vòng, bố nọ ra thì bố kia vào, đúng là "công suất" khủng khiếp! Chờ quãng gần tiếng đồng hồ thì thấy thằng Đức gọi, cả hội vào thanh toán tiền xong rồi biến mất.

Trên đường về, tôi ghé tai nó thì thầm: "Trông ghê bỏ xừ, mày chơi bạn gái còn sướng hơn." Nó cười: "Ông không quen thôi, sướng phết đấy! Với lại, tôi mới đi bộ đội về, chưa tán đổ con nào cả." Tôi gạ: "Hay mai mày cho tao đi tán gái làng với?" Nó gật đầu lia lịa: "Có gì đâu! Dễ thôi. Mấy hôm nữa có chương trình ca nhạc của Đoàn thanh niên xã kỷ niệm cái gì ấy, ông đi với tôi. Thích con nào thì tôi dẫn đến tận nhà!"

Về đến quán bia cỏ đầu làng, đã thấy anh Thành ngồi đó từ lúc nào. Ông anh này "có tình ý" với cô bé làm ở bưu điện xã. Tuần nào cô bé trực đêm là y như rằng anh lại mò vào "ngủ ké", sáng hôm sau chưa tỏ mặt người đã biến mất. Cô bé này cũng "dâm" ra trò, có hôm "máu" quá, tầm 7-8 giờ tối đã lượn qua lượn lại quán bia: "Anh Thành ơi, vào sửa giúp em cái bóng điện!" hoặc "Ổ khóa sao í, em không mở được!" Trời ạ, sửa sửa cái gì! "Chăn ấm đệm êm" thì nói thẳng ra đi, bày đặt "bóng điện với ổ khóa", đúng là dở hơi!

Cạn mấy ca bia, quãng gần 10 giờ đêm, đường làng vắng tanh vắng ngắt. Anh Thành ngậm ngùi: "Địt mẹ, chả có trò gì chơi nhỉ, buồn thật!" "Anh sang bưu điện mà chơi!" – thằng Đức gợi ý. "Tao vừa ở đó về, mẹ "hĩm" hôm nay lại lên cơn, mệt bỏ xừ!" – anh Thành càu nhàu. "Hay làm tí cầy đi anh?" – Đức đề nghị. Anh Thành gắt: "Thằng quỷ này, vừa ăn hôm qua rồi không chán à!" "Vậy làm tí tiết canh cho đỏ?" – Đức lại gạ. Anh Thành gật gù: "Ờ, nghe cũng có lý nhỉ! Để tao đi cho vui." Đức khoát tay, mấy thằng khác đứng dậy: "Thôi, em với mấy thằng đi cho nhanh, em soi mấy hôm nay rồi, anh cứ dề dà bỏ xừ. Anh cứ xuống dưới kia trước đi!" Nói rồi, chúng quay đít xe, phóng mất.

Anh Thành cùng tôi và đám còn lại đứng dậy, lại phi xuống cái đầm của lão Thực, bạn anh Thành. Ngồi chưa đầy 30 phút thì thấy thằng Đức quay lại, kéo theo một bao tải chứa 4-5 con vịt và một ổ trứng gà lộn, ném cho mấy thằng đang loay hoay chuẩn bị đồ.

Vừa nhâm nhi chén rượu, vừa hút thuốc lào chờ tiết canh, tôi hỏi thằng Đức: "Kiếm đâu ra đấy?" Hắn cười: "Thiếu gì! Quan trọng là có tài bắt hay không thôi." Xong hắn kể lể chuyện sang mấy trang trại bên kia sông "bắt trộm". Tôi thắc mắc: "Tài gì, nhanh là được chứ gì?" Hắn trợn mắt: "Ông tưởng dễ à? Bắt bình thường vịt nó chạy kêu toáng lên chứ lại, chủ nó ra có mà vỡ mồm! Muốn bắt vịt thì phải lấy cái dọc mùng nướng lên, xong lùa vào chuồng. Vịt sợ rắn, tưởng thật nằm im thin thít rồi mới chẹn cổ bắt được. Còn gà thì nhẹ nhàng tay luồn dưới ức bế lên, tay kia vuốt vuốt cổ trên thì nó mới không kêu. Học cả đấy, đùa đâu!" Tôi phì cười: "Ai dạy hay thế?" Hắn thủng thẳng: "Anh Tùng nhà mày chứ ai!" "Thế chó thì sao?" – tôi tò mò. Hắn cười ngất: "Mấy hôm nữa đi với tao nha!"

QUÊ TÔI - P2

 Chiếc thuyền lướt đi trong đêm vắng, êm ru như ru ngủ, mãi phải gần ba cây số thì nhẹ nhàng cập bến một bãi bồi giữa sông. Bãi này rộng ơi là rộng, y chang cái "soi" giữa sông Hồng quê tôi vậy. Trên bãi, bạt ngàn chỉ thấy toàn cây vải, không có lấy một loại cây nào khác. Cạnh đó, một chiếc ca nô nhỏ sơn đen đậu sẵn.

Anh Thành quay lại dặn tôi: "Mày cứ bám theo anh, đừng có lang thang, không khéo ăn đủ đấy!" rồi nhảy phóc xuống trước. Đám đi sau vác theo một lô xích xông bao tải trông khá cồng kềnh. Trên bờ, bốn năm ông nữa cũng đang ngồi chờ sẵn. Anh Thành lên tiếng: "Xong hết cả chưa?" "Ok rồi anh!" – một người trả lời, đoạn xách một cái bao tải có vẻ nặng trịch (và hình như có cả một chú chó hơi to nằm im thin thít bên trong) quăng lên thuyền.

Cả bọn lầm lũi, im thin thít như đi ăn trộm, men theo lối hàng rào thép gai đã được gỡ sẵn để vào vườn vải. Anh Thành ghé tai tôi thì thầm: "Không phải xoắn, cứ theo anh." Nói xong, anh rút con dao bấm ra, cầm chắc trong tay. Chao ôi, hóa ra đây là chuyên án "nhảy vải" nổi tiếng đây mà! Đúng là có khác, "dân chuyên" có khác!

Được biết, quy trình rất bài bản: trước tiên là "tiền trạm" để xác định vườn nào vải chín nhiều, chủ nhà chỉ có một mình hoặc vắng nhà. Sau đó là khâu chuẩn bị: cắt điện, cột chặt cửa nhà chủ vườn bằng dây thép gai, rồi cắt cử hẳn hai "vệ sĩ" cầm kiếm đứng canh hai bên cửa. Nghe mà tôi rùng mình.

Cả bọn tản ra xung quanh, giữ khoảng cách với nhà canh vườn. Mỗi người vác vài cái bao tải. Anh Thành lại ghé tai tôi: "Mày ngồi đây, nhớ chỗ hàng rào chui vào chưa? Có biến là cứ chuồn ra thuyền trước, tuyệt đối không được hút thuốc đấy, không là xong phim đấy!". Tôi ngồi bệt xuống gốc cây, tim đập thình thịch như đánh trống. Từ bé đến lớn, đây là lần đầu tôi tham gia "phi vụ" tầm cỡ thế này, sợ xanh mặt!

Phải gần một tiếng đồng hồ sau, cả đội mới rút lui, sau khi đã cẩn thận xóa sạch dấu vết: tháo dây buộc cửa, nối lại dây điện và mắc lại hàng rào thép gai đâu vào đấy. Mỗi người vác hai ba bao vải đầy ắp quẳng lên thuyền, mỗi bao ước chừng cũng phải mười đến mười lăm cân. Chiếc thuyền nhẹ nhàng chèo đi quãng trăm mét rồi mới nổ máy, phóng như bay. Chiếc ca nô đen phía sau cũng rồ máy bám theo sát nút.

Cập bến, cả bọn xách "chiến lợi phẩm" vào quán bia cỏ của anh chủ đầu dơi tai chuột, mặt mũi đười ươi mà anh Thành nhắc đến lúc tối. Anh chủ, ngoài ba mươi tuổi, đã hé cửa chờ sẵn, dẫn cả bọn vác hàng vào một căn nhà nhỏ dùng để chứa dụng cụ nông nghiệp. Cái bao tải có chú chó "nằm im thin thít" cũng được ném lại cho chủ quán. Xong xuôi, cả bọn nhanh chóng tản ra, biến mất vào màn đêm.

Hai anh em chúng tôi trở về nhà, mang theo mấy lon bia. Lúi húi pha bát mì tôm thêm quả trứng, ngồi vừa ăn vừa buôn chuyện. Anh Thành giải thích cặn kẽ về "nghề" này. Đại loại là có hai loại vải chua và vải ngọt. Đầu mùa, vải chua chín trước, giá "chát" khỏi bàn vì hàng hiếm mà nhu cầu thì lớn. Cả đội chỉ "đánh quả" được chừng một tuần đến mười ngày là hết mùa. Nhưng tuyệt đối không "phang" ở xã mình, phải sang xã khác, càng xa càng tốt.

Trước khi hành động, phải "tiền trạm" cực kỳ kỹ lưỡng: tìm hiểu xem vườn nào nhiều vải chín, mấy người canh, giờ giấc ra sao, vườn cạnh đó có ai không, thậm chí còn phải điều tra xem gia đình họ có con cháu chơi bời với anh em mình không, rồi mới lên kế hoạch tác chiến. Tôi buột miệng: "Đúng là như phim Mỹ ấy nhỉ!" Anh Thành cười khà khà: "Xưa ngu lắm, ăn trộm chả được mấy mà dễ bị tóm. May mà sau này chú Chính 'thổ' đi tù về, truyền thụ cho cả một khóa lý thuyết và thực hành, nên giờ mới 'bon tít' được thế này!"

Tôi hỏi tiếp: "Thế mai lại phải đi rao bán à?" Anh Thành đáp: "Đâu mà phải rao. Sáng sớm đã có xe chạy qua chỗ thằng Tài chủ quán lấy rồi, tiền tươi thóc thật theo giá thị trường luôn." "Được nhiều không anh?" – tôi tò mò. "Nhiều chứ! Một mớ to đấy, đủ phè phỡn chơi bời thoải mái."

"Thế tiền chia đều cho tất cả à? Hay là anh Tùng với chú Chính chia?" – tôi thắc mắc. Anh Thành giải thích rằng còn nhiều "ban bệ" ăn theo lắm, từ "trung ương đến địa phương" (anh nói thế chứ tôi cũng chả hiểu "trung ương" ở đây là ai). Quả thật, sự chặt chẽ của cái "tổ chức" này làm tôi kinh ngạc. Ai bảo nông dân "não ngắn" tôi chửi cho sml! Xong, anh Thành bảo: "Thôi khuya rồi, ngủ đi, mai lấy sức còn 'bú rượu cắn thịt chó' nữa chứ!"

Gần trưa hôm sau, anh Thành dắt tôi đến một ngôi nhà nằm biệt lập trên một cái đầm lớn cạnh sông, rộng chừng chục héc-ta. Đó là nơi thằng bạn anh Thành đấu thầu nuôi cá và ba ba. Vắng vẻ, tách biệt khỏi làng mạc nên đây là điểm tụ tập lý tưởng của anh em, để bù khú nhậu nhẹt, thậm chí còn "gọi đào" về đây chơi mà chẳng ai hay biết.

Chú chó bị "đánh bả" đêm qua không biết được mang đến từ lúc nào, giờ đã nằm gọn ghẽ trên mâm, đầy đủ các món. Tôi hơi e ngại: "Anh ơi, chó đánh bả sao ăn được ạ?" Anh Thành cười ha hả: "Bả có nhiều loại, có loại không ăn được, nhưng loại này đặc biệt, ăn thoải mái đi." Tôi vẫn hơi ghê ghê răng: "Bả đó là gì vậy ạ? Mà thôi, em không ăn đâu." Anh Thành khoát tay: "Ơ cái thằng này, mày là em tao mà tao lừa mày à? Bọn tao thèm thịt chó là đi 'săn' suốt, còn bán cho người ta nữa, có vấn đề gì đâu. Thôi vào uống rượu đi, bả gì lát nữa tao nói. Đúng là ông công tử bột, chả biết cái gì sất!"

Tôi theo anh ngồi vào mâm. Ngoài thịt chó, còn có mấy con cá trắm to hấp từ dưới đầm lên, ăn ngon tuyệt cú mèo. Một cái can 20 lít rượu được đặt giữa mâm, đầy đủ các "chiến hữu" đêm qua và thêm vài người nữa. Anh Thành giới thiệu tôi với mọi người. Không khí vui vẻ, dân quê vốn dễ gần, hiếu khách, thêm chút rượu vào là chuyện trò rôm rả như pháo rang. Thằng ngồi cạnh tôi tên Đức, trạc tuổi tôi, tóc dài nhìn khá lãng tử. Sau chục chén rượu, nó khề khà gạ tôi: "Mai có tiền, anh em mình đi 'ăn hàng' phát nhỉ, Són!" "Ăn hàng là cái gì thế?" – tôi hỏi. "Tối mai tao qua đón mày, hay lắm, đi nhá!" – nó cười tủm tỉm.



QUÊ TÔI - P1

Cái mùa hè xa lắc xa lơ nào đấy, khi tôi vẫn còn đang mài đũng quần trên ghế nhà trường, bỗng thấy chúng bạn xôn xao rủ nhau đăng ký tham gia phong trào Mùa Hè Xanh-sạch-đẹp gì đó. Nghe bảo sẽ được lên vùng sâu vùng xa cống hiến sức trẻ, tôi cũng thấy nao nao trong dạ.

Ngồi trà đá vỉa hè, hóng các đàn anh khóa trên chém gió về "chiến tích" sau mỗi chuyến đi, tôi lại càng quyết tâm. Nào là giao lưu văn nghệ với các thiếu nữ thôn bản, nào là cải thiện bữa ăn bằng "nông sản tự túc"... Tựu trung lại, công thức có vẻ là: cống hiến một, trải nghiệm và hưởng thụ thì mười. Nghe thôi đã thấy lọt tai ghê gớm!

Về nhà, tôi trịnh trọng trình bày với "lão nhân gia": "Bố ơi! Con quyết định dấn thân! Thanh niên thời đại mới phải năng nổ, phải đi sâu đi sát vào đời sống bà con nông dân, tìm hiểu thực tiễn, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của quần chúng..." - Tôi tuôn một tràng những câu chữ nghe như trong nghị quyết.

Bố tôi, đang khoan thai nhấp ngụm bia hơi, nghe xong liền đặt cốc xuống bàn một cái "cộp". Ngài lườm tôi từ đầu đến chân rồi phán một câu xanh rờn: "Thôi thôi, xin cậu! Ở nhà thì lười chảy thây, cái bát ăn xong còn chưa dọn nổi mà đòi đi kiến thiết đất nước à? Muốn thực tế chứ gì? Về quê! Vừa có thực tế, vừa đỡ tốn kém. Quyết thế đi, không nói nhiều!"

Thế là, hành trình "về nguồn" của tôi chính thức bắt đầu.

Xin thưa luôn cho vuông, quê tôi không hề nghèo nhé. Nằm trong vùng "thủ phủ" của một loại cây ăn quả nức tiếng cả nước, nhà nào cũng có vài sào vườn là đủ sống ung dung quanh năm. Ruộng lúa có khi còn cho thuê, chỉ cấy chút ít lấy gạo nấu rượu với nuôi dăm con gà con vịt cho vui cửa vui nhà thôi.

Ông bà tôi đều đi xa cả rồi. Các cô các bác cũng thoát ly lên thành phố, chỉ còn lại vài người bám trụ mảnh đất ông cha. Vừa về đến nơi, mấy ông anh họ đã hồ hởi làm ngay một bữa tiết canh vịt chào đón "thằng em tri thức" về thâm nhập thực tế. Rượu vào lời ra, anh Thành, con bác cả, hơn tôi vài tuổi, vỗ vai tôi đôm đốp: "Thôi, tối mày với tao qua nhà ông bà ngoại ngủ cho thoải mái, đi sớm về khuya không phiền đến ai."

Thế là tôi xách ba lô theo anh sang "dinh thự" bỏ không. Đêm đầu tiên, ngà ngà say, tôi gác chân lên cửa sổ ngủ, gió đồng mát rượi. Chao ôi, bình yên làm sao!

Trời mới tờ mờ sáng, anh Thành đã lay tôi dậy. Mắt nhắm mắt mở, tôi định cuộn tròn trong chăn thì anh giục: "Dậy mau! Lòng lợn tiết canh đang chờ kìa, anh em còn phải đi làm ăn nữa chứ!" Ồ, nông dân thời nay chăm chỉ thật, tôi nghĩ bụng và bật dậy cái roẹt.

Anh dắt tôi ra một quán ăn nằm ngay trên trục đường liên tỉnh. Vừa tới nơi đã thấy 3-4 chiến hữu của anh ngồi sẵn, trước mặt là mấy đĩa lòng bốc khói nghi ngút và dăm ba chai "nước mắt quê hương". Nhìn cảnh tượng này, tôi không khỏi choáng váng. Mới sáng sớm mà các anh đã nạp năng lượng hùng hậu thế này, bảo sao chiều vẫn đi làm được, quả là đáng nể!

Tôi ngồi chưa ấm chỗ thì anh Tùng (con cả nhà bác tôi, tầm bốn chục xuân xanh) bước vào cùng một người đàn ông trạc tuổi, đầu trọc, mắt một mí trông rất "hình sự". Cả bàn nhốn nháo đứng dậy chào. Hai vị "lão đại" gật gù rồi ngồi riêng một bàn. Anh Tùng vẫy tôi lại: "Đây là chú Chính 'thổ', cũng là vai chú họ mình đấy. Sang đây ngồi với anh và chú, kệ bọn kia. Uống nhanh còn có việc."

Tôi ngoan ngoãn vác ghế sang. Chú Chính vỗ vai tôi thân tình: "Về đây chơi cứ thoải mái nhé, không phải ngán thằng nào hết, nghe chưa!" Tôi dạ vâng lia lịa, nhưng trong đầu thì thắc mắc: "Ơ, nhưng mà... ngán là ngán cái gì mới được cơ chứ?"

Ngồi hóng chuyện một lúc, tôi mới vỡ lẽ. Anh tôi và chú Chính hóa ra là những "nhân vật có số má" trong vùng. "Công việc" của các anh là vận hành một trạm "BOT dân dã" trên tuyến đường này. Xe khách, xe tải đi qua đều phải đóng "phí lưu thông". Đội ngũ làm việc rất chuyên nghiệp, xe nào chạy tuyến cố định thì thu theo tháng, xe vãng lai thì tính theo lượt. Ai không tuân thủ thì nhẹ nhàng là xịt lốp, nặng hơn thì hàng hóa không cánh mà bay.

Đặc biệt vào mùa thu hoạch vải thiều, "doanh nghiệp" của hai anh làm ăn phát đạt cực kỳ. Xe tải xếp hàng dài dằng dặc. Ngoài tiền "vé qua trạm", chủ hàng còn phải nộp thêm "phí an ninh" mới mong làm ăn yên ổn. Chưa kể các dịch vụ đi kèm như cung cấp nhân công thu hái, bốc vác, đóng gói... Mọi thứ đều có sổ sách ghi chép, quy trình rõ ràng, còn có cả "quan hệ đối ngoại" chặt chẽ với chính quyền địa phương nữa chứ chẳng đùa.

Quanh quẩn mấy ngày chỉ ăn với nhậu, tôi bắt đầu thấy chán. Tôi ngỏ ý muốn được đi "thực tế" công việc làm ăn của bà con nông dân. Anh Thành cười bí hiểm: "Ok em, tối nay đi. Giờ cứ làm vài vại bia đã."

Đến tối, chẳng thấy động tĩnh gì, tôi hỏi thì anh lại rủ ra quán bia ngồi chờ. Tò mò quá mà không dám hỏi nhiều. Hai anh em ngồi lai rai với đám bạn của anh đến gần nửa đêm thì có người vào gọi. Anh Thành xách thêm can rượu, ít lạc rang rồi dắt tôi đi.

Chúng tôi đi bộ ra bờ sông, xuống một con thuyền nhỏ không mui, có gắn máy ở đuôi. "Đi đâu đấy anh?" - Tôi tò mò. Anh cười cười: "Đi làm chứ đi đâu." Lòng tôi dấy lên một cảm giác hồi hộp khó tả.

Thuyền từ từ rời bến, nhưng lạ thay, anh không nổ máy mà lại dùng sào chèo tay. Tôi thắc mắc thì anh chỉ bảo: "Cứ đi rồi biết, hỏi nhiều làm gì."

Đêm ấy trăng sáng vằng vặc. Ngồi trên mạn thuyền, nhâm nhi chén rượu giữa không gian tĩnh lặng, chỉ có tiếng mái chèo khua nước và ánh trăng lấp lánh trên sông, gió thổi mơn man... Khung cảnh hữu tình, lãng mạn như trong phim. Cả đoàn không ai nói với ai câu nào, khiến cho sự phiêu lưu bí ẩn càng thêm phần hấp dẫn.